ĐẢNG VÀ BÁC

ĐẢNG TRONG DÁNG HÌNH ĐẤT NƯỚC

   Thế hệ trẻ chúng tôi sinh ra và lớn lên khi đất nước đã im tiếng súng. Cảm nhận về chiến tranh trong những kí ức chưa phai mờ của ông bà, hình dung về sự khốc liệt của cuộc chiến qua hình ảnh. Đó là một may mắn đối với chúng tôi như nhiều người thường nói. Nhưng chúng tôi hiểu sự may mắn đó là một tất yếu, mà đã là tất yếu thì không thể gọi là may mắn.

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi 

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể 

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn 

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” 


Một đất nước có ngàn năm lịch sử đang chìm trong màn đêm của chế độ thực dân, đế quốc. Mỗi tấc đất, cây cỏ đều thấm đẫm máu, nước mắt của người dân mất nước…Nhưng tất cả đã thay đổi khi Đảng ra đời. Đất trời và con người như bừng tỉnh, ánh sáng của Đảng đã xua tan màn đêm tối tăm, bình minh thức giấc và con người thì tràn trề niềm tin, hy vọng.

“Vừng dương hé sáng khi khắp nơi ta có Đảng 

Bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang 

Và rồi từ đây ánh dương soi đời mới 

Tiếntương lai sáng tươi” 

    Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đó là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự chuẩn bị đó được bắt đầu từ sự kiện tháng 7/1920 với việc đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc cho nhân dân Việt Nam.

“Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc

Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin

Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp

Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin.

Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc:

“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”

   15 năm sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đồng cỏ héo đã bừng lửa cháy 
Nước non ơi, hết thảy vùng lên!
Bắc Trung Nam khắp ba miền
Toàn dân khởi nghĩa! Chính quyền về tay!
Lời Đảng gọi, một ngày sấm nổ
Biển người dâng ngập phố ngập đồng
Mùa thu Cách mang thành công
Mùa thu đây, hỡi cờ hồng vàng sao!
 

   Tiếp đó dân tộc ta đã làm nên một Điện Biên Phủ “ vang dội năm châu, chấn động địa cầu”

“Ôi Tổ quốc, vinh quang Tổ quốc! 
Ngàn muôn năm dân tộc ta ơi!
Việt Nam anh dũng sáng ngời
Ánh gươm độc lập giữa trời soi chung”.

    Với chân lí “Gươm nào chém được dòng Bến Hải? Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn?” “ Không có gì quý hơn độc lập tự do” dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng lại bước vào cuộc kháng chiến trường kì vĩ đại, làm nên đại thắng mùa xuân 1975 . Đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.

   Dưới ánh sáng của Đảng, với chân lí thời đại đã sản sinh ra những con người anh hùng, của một dân tộc anh hùng. Bao lớp thanh niên như chúng tôi hôm nay đã hiến trọn tuổi trẻ cho những mùa xuân của dân tộc: Đó là hình ảnh Lý Tự Trọng trước cái chết vẫn ngẩng cao đầu : “Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kĩ thì các ông cũng cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi”. Đó còn là người con gái đất đỏ kiên cường  Võ Thị Sáu “Giặc đem ra bãi bắn. Đi giữa hai hàng lính. Vẫn ung dung mỉm cười”.Đến  người chiến sĩ:

“Những đồng chí thân chôn làm giá súng 
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm…
Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện”.

    Và trong những năm tháng chống Mĩ cứu nước. Bao lớp thanh niên với khí thế: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. “Chúng tôi đi không tiếc đời mình. Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc. Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”. Họ đã làm nên những mùa xuân của dân tộc

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt 
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn 

Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng”

……………………………………….
Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ:
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”

    Kể từ mùa xuân năm ấy của dân tộc, hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã lập nên những chiến công huy hoàng, viết lên những trang sử vẻ vang nhất cho Tổ quốc mình. Đó còn là sự hi sinh của bao lớp lớp người đi trước , tô thắm thêm lá cờ Tổ quốc, làm nên dáng hình Đất nước hôm nay. Để cho trách nhiệm hôm nay và mai sau không hề nhỏ.

“Sức Phù Đổng không vừa tầm dũng sĩ
Phải phá núi thời này nung lấy thép cho ta

Ta nghĩ chuyện nghìn năm chưa kịp nghĩ
Và đôi mắt thần của Đảng chiếu tầm xa”.


Ý NGHĨA NGÀY 30/4

 

Mùa Xuân năm 1975, nhân dân Việt Nam đã ghi một chiến công vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử anh hùng của dân tộc: sau 55 ngày đêm tiến công thần tốc đã quét sạch toàn bộ chế độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng miền Nam thân yêu, giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

 

Hai năm sau Hiệp định Pa-ri được ký kết , và nhất là từ chiến thắng Phước Long, cục diện chiến trường miền Nam đã thay đổi một cách căn bản, có lợi cho ta. Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng, tháng 10-1974 và đầu năm 1975, đã kịp thời đánh giá đúng lực lượng so sánh giữa ta và địch, vạch rõ sự xuất hiện của thời cơ lịch sử và hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt mùa Xuân năm 1975 – với ba chiến dịch lớn: chiến dịch Tây Nguyên (10/3 -> 24/3/1975), chiến dịch Huế – Đà Nẵng (21/3 -> 29/3/1975) và chiến dịch Hồ Chí Minh (26/4 -> 30/4/1975).

Ngày 10-3-1975 cuộc Tổng tiến công chiến lược và nổi dậy vĩ đại được mở đầu bằng trận đánh hết sức táo bạo, bất ngờ của quân ta vào thị xã Buôn Mê Thuột – một vị trí then chốt, hiểm yếu trong hệ thống phòng ngự của quân địch ở Tây Nguyên. Trận đánh trúng huyệt đó đã làm rung chuyển toàn bộ Tây Nguyên và bắt đầu quá trình sụp đổ không thể cứu vãn nổi của ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn. Sau thất bại nặng nề và choáng váng đó, quân ngụy phải rút khỏi Kon Tum và Plây Cu ngày 24-3, cả vùng Tây Nguyên rộng lớn đã được hoàn toàn giải phóng.

Trong khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, ngay từ trung tuần tháng 3, chiến dịch tiến công lớn thứ hai của quân ta vào tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế và căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng đã được quyết định. Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng là những khu vực phòng ngự mạnh nhất của quân ngụy ở quân khu I.
Trưa ngày 26-3-1975 quân ta đã tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế, giải phóng cố đô.

Ngày 24-3, thị xã Tam Kỳ được giải phóng. Đà Nẵng trở nên hoàn toàn cô lập. Sau khi mất Huế, Nguyễn Văn Thiệu hò hét quyết “tử thủ” Đà Nẵng bằng bất cứ giá nào. Nhưng đúng 15h ngày 29/4  các binh đoàn thần tốc của ta đã gặp nhau ở trung tâm Đà Nẵng.
Phối hợp với các chiến dịch Tây Nguyên và Huế – Đà Nẫng, quân và dân ta đã tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, kịp thời chiếm giải phóng nhiều tỉnh , thị xã ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long

Với những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ to lớn của chiến dịch Tây Nguyên và Huế – Đà Nẵng, cục diện chiến tranh đã có bước phát triển nhảy vọt, thời cơ lớn để tiêu diệt toàn bộ ngụy quân và ngụy quyền đã tới. Từ giữa hạ tuần tháng 3, trong khi chiến dịch Thừa Thiên – Huế sắp kết thúc thắng lợi, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chính thức hạ quyết tâm mở chiến dịch lịch sử có ý nghĩa quyết định nhằm đập tan toàn bộ lực lượng ngụy quân, ngụy quyền còn lại, giải phòng hoàn toàn miền Nam. Chiến dịch lịch sử này được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Sài Gòn – sào huyệt cuối cùng của địch, là nơi quyết định số phận của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ và chính quyền tay sai. Từ đầu tháng 4/1975, trên khắp mọi miền đất nước, nhân dân ta đã sống những ngày giờ hết sức sôi động và hào hùng. Cả dân tộc ra quân trong trong mùa Xuân lịch sử với tinh thần “đi nhanh đến, đánh nhanh thắng” và với khí thế “thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo táo bạo hơn nữa . Tranh thủ từng phút từng giờ xông tới Miền Nam giải phóng nước nhà”
Tháng 4, những trận quyết chiến chiến lược cuối cùng bắt đầu. Ngày 16/4 ta giải phóng  phóng Phan Rang (Ninh Thuận), tiếp đó lần lượt giải phóng tỉnh bình Thuận với thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Tân với thị xã Hàm Tân. Ngày 21-4, phá vỡ phòng tuyến Xuân Lộc

Ngày 26-4, từ 17 giờ quân ta mở cuộc tiến công lớn trên hướng đông và nam Sài Gòn, xiết chặt vòng vây chung quanh Sài Gòn. Đến 28-4, tất cả các cánh quân lớn của ta đã bao vây chặt Sài Gòn. Giờ tận số của chế độ Mỹ – ngụy đã điểm

Đúng 0 giờ ngày 29-4-1975, các binh đoàn chủ lực hùng mạnh của ta từ nhiều hướng đồng loạt tổng công kích vào Sài Gòn – sào huyệt cuối cùng của kẻ thù. Với ưu thế áp đảo, quân ta ào ạt tiến công, vừa bao vây tiêu diệt địch ở vòng ngoài, vừa thần tốc, táo bạo thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu quan trọng ở bên trong.
Sáng ngày 30-4, một mũi thọc sâu của quân ta đánh thẳng vào trung tâm thành phố, nhanh chóng chiếm phủ tổng thống ngụy.10h 30p  tổng thống Dương Văn Minh đã phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 phút,  lá cờ cách mạng phấp phới tung bay trên nóc “dinh Độc Lập”.

“Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp 
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa”

Có trải qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến cảnh đất nước hai miền chia cắt mới thấy ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4, mới cảm nhận hết giá trị của những năm tháng hoà bình và sự thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc.

Sài Gòn- khoảng cách không quá xa về mặt địa lí nhưng để đến đó cả dân tộc ta đã mất 21 năm . Để rồi cùng với độ lùi của thời gian ta sẽ càng hiểu hơn cái giá vô bờ của ngày thống nhất, để trân quý hơn những khoảnh khắc hòa bình .  Và ngày hôm nay khi thầy trò chúng ta đang có những giây phút bình yên để cùng ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc thì ở đâu đó trên mảnh đất hình chữ S này máu vẫn đổ , và ngoài khơi xa vẫn còn đó những con người bình dị với công việc thầm lặng của mình khẳng định chủ quyền lãnh hải

40 năm đã trôi qua, so với lịch sử dân tộc thì thật ngắn ngủi nhưng so với cuộc đời mỗi con người là khá dài. Một phần thế hệ làm nên chiến thắng 30/4 vẫn đang gánh vác nhiều trọng trách của đất nước những thế hệ sinh ra và lớn lên sau ngày 30/ , đã và đang ở độ chín của tài năng. Họ đang mang trong mình những nhiệt huyết và hoài bão lớn để đưa đất nước lên một tầm cao mới. Và chúng ta hôm nay, với sức mạnh của tuổi trẻ, với nồng nàn tình yêu tổ quốc và với trí tuệ của mình chúng ta biết phải làm gì để xứng đáng là những người viết tiếp huyền thoại của Tổ quốc :

“Hãy bước tới.

Từ đỉnh cao này vời vợi

Đến những chân trời xa…

Hạnh phúc ở mỗi bàn tay vun xới

Mỗi nụ mầm nở tự lòng ta”.